Đồng tiền thanh toán quốc tế chính (Major Settlement Currency)
Đồng tiền thanh toán quốc tế chính (Major Settlement Currency) là đồng tiền được một số lượng lớn ngân hàng trung ương, tổ chức tài chính quốc tế và doanh nghiệp xuất nhập khẩu sử dụng làm phương tiện thanh toán, định giá và dự trữ trong các giao dịch thương mại quốc tế, giao dịch liên ngân hàng xuyên biên giới và các hoạt động đầu tư toàn cầu. Đồng tiền này phải đáp ứng các tiêu chí: thị trường thanh khoản sâu rộng, khả năng chuyển đổi tự do, ổn định giá trị tương đối và được hầu hết các ngân hàng trung ương chấp nhận nắm giữ trong dự trữ ngoại hối.
Trên thực tế, nhóm các đồng tiền thanh toán quốc tế chính bao gồm: Đô la Mỹ (USD), Euro (EUR), Yên Nhật (JPY), Bảng Anh (GBP), Đô la Canada (CAD), Đô la Úc (AUD), Đô la Singapore (SGD), Đô la Hồng Kông (HKD) và Nhân dân tệ (CNY) ở một số khía cạnh thanh toán xuyên biên giới. Trong đó, USD vẫn chiếm tỷ trọng áp đảàn trong thanh toán thương mại quốc tế toàn cầu, tiếp đến là EUR.
Vai trò và tầm quan trọng trong nghiệp vụ ngân hàng
Trong hoạt động ngân hàng, các đồng tiền thanh toán quốc tế chính đóng vai trò trung tâm ở nhiều mảng nghiệp vụ:
- Thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại: Phần lớn các hợp đồng nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị giữa doanh nghiệp Việt Nam với đối tác nước ngoài được định giá bằng USD hoặc EUR. Các chứng từ như L/C, nhờ thu (Collection), séc ngoại tệ đều quy định rõ đồng tiền thanh toán phải nằm trong nhóm này để đảm bảo khả năng chuyển đổi và giao nhận tại ngân hàng nước ngoài.
- Giao dịch liên ngân hàng (Interbank): Tỷ giá mua/bán giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam được niêm yết theo USD làm đồng tiền cơ sở (ví dụ: USD/VND), trong khi EUR, GBP, JPY thường được tính chéo qua USD (cross rate).
- Quản lý dự trữ ngoại hối: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì phần lớn dự trữ ngoại hối quốc gia bằng USD, một phần bằng EUR, JPY, GBP và vàng. Điều này nhằm đảm bảo năng lực can thiệp ổn định tỷ giá và thanh toán quốc tế cho cả nền kinh tế.
- Định giá khoản vay và phát hành trái phiếu quốc tế: Các doanh nghiệp lớn và tổ chức tài chính khi vay vốn nước ngoài hoặc phát hành trái phiếu quốc tế (Eurobond, Reg S…) thường lựa chọn USD hoặc EUR làm đồng tiền phát hành để tiếp cận nhà đầu tư rộng hơn và có chi phí vốn thấp hơn.
- Sản phẩm phái sinh ngoại tệ: Giao dịch forward, swap, option ngoại tệ tại các ngân hàng Việt Nam tập trung chủ yếu vào các cặp tỷ giá liên quan đến USD, EUR, JPY, GBP.
Cách xác định và tiêu chí phân loại
Một đồng tiền được xếp vào nhóm đồng tiền thanh toán quốc tế chính khi thỏa mãn các tiêu chí định lượng và định tính sau:
- Tỷ trọng trong dự trữ ngoại hối toàn cầu (COFER – Currency Composition of Official Foreign Exchange Reserves) do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố. Theo các báo cáo COFER gần đây, USD chiếm khoảng hơn 58%, EUR khoảng 20%, JPY khoảng 5–6%, GBP khoảng 5%, CNY khoảng 2–3% tổng dự trữ ngoại hối toàn cầu.
- Tỷ trọng trong thanh toán thương mại quốc tế theo báo cáo của SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication). Dựa trên dữ liệu SWIFT Remittance và SWIFT Trade, USD thường chiếm khoảng 40–47%, EUR khoảng 20–25% tổng giá trị thanh toán xuyên biên giác toàn cầu.
- Tính thanh khoản thị trường liên ngân hàng (FX market turnover): Theo Khảo sát Ba năm của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), USD và EUR là hai đồng tiền có doanh số giao dịch lớn nhất, tiếp đến là JPY, GBP, AUD, CAD, CHF, CNY.
- Mức độ chuyển đổi tự do (convertibility): Đồng tiền được giao dịch tự do trên thị trường ngoại hối, không bị kiểm soát vốn nghiêm ngặt.
- Được ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn chấp nhận làm phương tiện dự trữ.
Ví dụ minh họa trong nghiệp vụ ngân hàng Việt Nam
Một doanh nghiệp dệt may tại Thành phố Hồ Chí Minh nhập khẩu nguyên liệu vải từ Hàn Quốc. Hợp đồng ngoại thương quy định đồng tiền thanh toán là USD, dù quốc gia xuất khẩu là Hàn Quốc (đồng tiền nội tệ là KRW). Lý do là USD là đồng tiền thanh toán quốc tế chính, hai bên dễ dàng quy đổi, ngân hàng trung gian xử lý nhanh, giảm thiểu rủi ro tỷ giá cho cả người mua và người bán. Ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở L/C sẽ tiến hành phát hành thư tín dụng bằng USD, áp dụng tỷ giá USD/VND theo bảng niêm yết của ngân hàng tại thời điểm phát hành.
Một ví dụ khác: một công ty chứng khoán muốn đầu tư gián tiếp ra thị trường chứng khoán Hàn Quốc thông qua quỹ ETF. Công ty này phải chuyển đổi VND sang USD tại ngân hàng thương mại Việt Nam, sau đó USD sẽ được chuyển tới ngân hàng lưu ký toàn cầa (global custodian). Mọi bước đều sử dụng USD vì đây là đồng tiền thanh toán quốc tế chính được các custodian chấp nhận.
Câu hỏi thường gặp
Hỏi: Nhân dân tệ (CNY) có phải là đồng tiền thanh toán quốc tế chính không? Mặc dù CNY ngày càng có vai trò lớn hơn trong thanh toán xuyên biên giới (đặc biệt với các đối tác thương mại của Trung Quốc thông qua hệ thống CIPS và khuôn khổ thanh toán song phương), nhưng để được xếp vào nhóm đồng tiền thanh toán quốc tế chính theo đầy đủ nghĩa, CNY vẫn bị giới hạn bởi kiểm soát vốn và tính chuyển đổi tự do trên tài khoản vốn. Trong báo cáo COFER của IMF, CNY mới chỉ chiếm khoảng 2–3% dự trữ ngoại hối toàn cầu.
Hỏi: Tại sao nhiều hợp đồng ngoại thương giữa Việt Nam và Nhật Bản lại thanh toán bằng USD thay vì JPY? Do USD là đồng tiền thanh toán quốc tế chính với thanh khoản cao nhất, các ngân hàng Việt Nam duy trì trạng thái ngoại tệ USD lớn hơn nhiều so với JPY. Thanh toán bằng USD giúp doanh nghiệp Việt Nam dễ hạch toán, ít phụ thuộc vào biến động tỷ giá chéo JPY/USD, đồng thời ngân hàng xử lý nhanh hơn. JPY thường chỉ được sử dụng trong các hợp đồng có quy mô lớn với đối tác Nhật và có điều khoản thỏa thuận riêng.
Hỏi: Ngân hàng thương mại Việt Nam có được tự do giao dịch mọi đồng tiền thanh toán quốc tế chính không? Không hoàn toàn. Ngân hàng thương mại Việt Nam được giao dịch các ngoại tệ là đồng tiền thanh toán quốc tế chính đã được Ngân hàng Nhà nước cho phép niêm yết và kinh doanh (thường gồm USD, EUR, JPY, GBP, AUD, SGD, CHF, CAD…). Một số đồng tiền khác dù đôi khi được gọi là đồng tiền thanh toán quốc tế chính trong báo cáo quốc tế nhưng không nằm trong danh mục được niêm yết tại Việt Nam thì các ngân hàng không được tự do mua bán, chỉ có thể thực hiện khi có nhu cầu thực tế và được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận từng trường hợp.
Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn chuyên môn về nghiệp vụ ngân hàng và quản lý ngoại hối.