Bỏ qua điều hướng

Hội đồng nhân dân (chi tiết) là gì?

Pháp luật & Hành chính

Hội đồng nhân dân

Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương, do cử tri trên địa bàn cấp hành chính tương ứng trực tiếp bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về mọi hoạt động của mình. Hội đồng nhân dân được tổ chức theo 03 cấp tương ứng với 03 cấp chính quyền địa phương, bao gồm: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), Hội đồng nhân dân cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương) và Hội đồng nhân dân cấp xã (xã, phường, thị trấn, đặc khu).

Cơ sở pháp lý và vị trí trong hệ thống chính quyền

Hội đồng nhân dân được quy định tại Hiến pháp năm 2013 (Chương V, các điều từ Điều 113 đến Điều 115) và được cụ thể hóa bằng Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân giữ vai trò là cơ quan đứng đầu, cùng với Ủy ban nhân dân cùng cấp - là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do Hội đồng nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Hai cơ quan này tạo thành mô hình "lập pháp - hành pháp" ở cấp địa phương, trong đó Hội đồng nhân dân thực hiện chức năng quyết định và giám sát, còn Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng chấp hành và điều hành.

Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể

Hội đồng nhân dân có hai chức năng cốt lõi là quyết định và giám sát. Về chức năng quyết định, Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương thông qua nghị quyết, bao gồm: thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm; quyết định dự toán ngân sách địa phương và phân bổ ngân sách; quyết định các chương trình, dự án đầu tư công trên địa bàn; quyết định biện pháp phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, khoa học - công nghệ; quyết định các vấn đề liên quan đến đất đai, môi trường, quy hoạch xây dựng trong phạm vi thẩm quyền; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các Ủy viên Ủy ban nhân dân cùng cấp. Về chức năng giám sát, Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân; xem xét báo cáo công tác của các cơ quan tư pháp; xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân dân và các cơ quan liên quan. Hội đồng nhân dân có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với người do mình bầu hoặc phê chuẩn.

Cơ cấu tổ chức và nhiệm kỳ

Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân gồm: Thường trực Hội đồng nhân dân (gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Thường trực), đây là cơ quan thay mặt Hội đồng nhân dân hoạt động giữa hai kỳ họp; các Ban của Hội đồng nhân dân (như Ban Kinh tế - Ngân sách, Ban Văn hóa - Xã hội, Ban Pháp chế...) có nhiệm vụ thẩm tra các dự án, đề án trước khi trình Hội đồng nhân dân và thực hiện giám sát theo chuyên đề; Tổ đại biểu và đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động theo nguyên tắc cá nhân và tổ chức tại địa phương nơi bầu cử. Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân mỗi cấp là 05 năm kể từ ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất. Trong trường hợp đặc biệt, nhiệm kỳ có thể kéo dài hoặc rút ngắn theo quyết định của Quốc hội hoặc Chủ tịch nước theo quy định pháp luật.

Nguyên tắc hoạt động và cơ chế làm việc

Hội đồng nhân dân hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số, nghĩa là không có cá nhân nào có quyền quyết định thay Hội đồng nhân dân; mọi quyết định phải được thảo luận tập thể và thông qua bằng hình thức biểu quyết tại kỳ họp, với tỷ lệ quá bán (trên 50% tổng số đại biểu) đối với nghị quyết thông thường và tỷ lệ ít nhất hai phần ba đối với một số vấn đề quan trọng theo quy định. Hội đồng nhân dân hoạt động theo chế độ kỳ họp, mỗi năm thường tổ chức từ 02 đến 06 kỳ họp tùy theo cấp và tính chất công việc. Tại mỗi kỳ họp, đại biểu thảo luận, chất vấn và biểu quyết thông qua các nghị quyết, đồng thời xem xét báo cáo của Ủy ban nhân dân và các cơ quan tư pháp. Giữa hai kỳ họp, Thường trực Hội đồng nhân dân và các Ban thực hiện nhiệm vụ thay mặt Hội đồng nhân dân, nhưng không được quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của toàn thể Hội đồng nhân dân.

Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và tài chính địa phương

Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, Hội đồng nhân dân đóng vai trò quan trọng ở cấp tỉnh và cấp huyện thông qua các nhiệm vụ cụ thể: quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn và dự toán chi ngân sách địa phương; quyết định phân bổ ngân sách trung ương được phân cấp cho địa phương; quyết định việc huy động các khoản đóng góp của Nhân dân cho các công trình phúc lợi công cộng; phê duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội làm căn cứ cho hoạt động đầu tư tín dụng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Đối với thị trường tài chính, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân về chính sách thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển nông nghiệp - nông thôn... có tác động trực tiếp đến chiến lược tín dụng và cho vay của các chi nhánh ngân hàng thương mại tại địa phương. Vì vậy, khi phỏng vấn vào các vị trí liên quan đến quan hệ khách hàng doanh nghiệp, tín dụng đầu tư hoặc ngân hàng chính sách, ứng viên cần hiểu rõ cơ chế ra quyết định của Hội đồng nhân dân để đánh giá chính xác rủi ro chính sách và môi trường kinh doanh tại địa phương.

Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo tổng quan, không thay thế văn bản pháp luật chính thức hoặc tư vấn pháp lý chuyên nghiệp. Đề nghị tra cứu trực tiếp các văn bản hiện hành khi cần áp dụng cụ thể.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

B
BIDV

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.