Bỏ qua điều hướng

Nhận hối lộ (Bribery / Receiving Bribes) là gì?

Pháp luật & Hành chính

Nhận hối lộ (Bribery / Receiving Bribes)

Nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất để làm hoặc không làm một việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, hoặc vì đã làm hoặc không làm một việc trong phạm vi chức trách, nhiệm vụ được giao. Hành vi này là một trong những tội danh thuộc nhóm tội phạm về tham nhũng trong Bộ luật Hình sự Việt Nam và cũng là hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành. Trong lĩnh vực ngân hàng, nhận hối lộ được xem là một trong những rủi ro tuân thủ trọng yếu (key compliance risk) vì có thể làm méo hoạt động phê duyệt tín dụng, xét duyệt giao dịch, mua sắm thiết bị và tuyển dụng nhân sự.

Dấu hiệu cấu thành hành vi nhận hối lộ

Để xác định một hành vi là nhận hối lộ, cần hội tụ đồng thời bốn dấu hiệu cơ bản. Thứ nhất, chủ thể phải là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; trong ngân hàng có thể là giám đốc chi nhánh, trưởng phòng tín dụng, giao dịch viên, nhân viên thẩm định, thành viên hội đồng tín dụng hoặc bất kỳ cá nhân nào được giao một phần quyền quyết định. Thứ hai, hành vi khách quan là việc nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất (tiền mặt, chuyển khoản, quà tặng, sổ tiết kiệm, voucher, bất động sản) hoặc lợi ích phi vật chất (vé du lịch, bữa ăn sang trọng, dịch vụ giải trí, quan hệ tình dục, sắp xếp việc làm cho người thân, cơ hội đầu tư sinh lời không công bằng). Thứ ba, mối liên hệ giữa lợi ích nhận được và việc làm hoặc không làm thuộc thẩm quyền của người nhận; đây là yếu tố phân biệt với tặng quà biếu xã giao thông thường. Thứ tư, yếu tố chủ quan thể hiện ở lỗi cố ý: người nhận biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện vì tư lợi.

Khung hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự

Căn cứ Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), mức phạt được phân chia theo giá trị lợi ích nhận được, cụ thể như sau. Nhận từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng: phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Nhận từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng: phạt tù từ 7 năm đến 15 năm. Nhận từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng: phạt tù từ 15 năm đến 20 năm. Nhận từ 1.000.000.000 đồng trở lên: phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tù có thời hạn đến 20 năm; trong một số trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể áp dụng mức cao nhất. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ từ 1 năm đến 5 năm và tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Với lợi ích phi vật chất, mức phạt được xác định theo giá trị quy đổi thành tiền hoặc căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi. Người vi phạm còn có thể bị buộc thôi việc, thu hồi quyết định bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Phân biệt nhận hối lộ với các hành vi khác

Trong thực tiễn xét tuyển và ôn tập, việc phân biệt nhận hối lộ với một số hành vi gần gũi là yêu cầu thường gặp. Nhận hối lộ khác tham ô tài sản (Điều 353) ở chỗ: tham ô là hành vi chiếm đoạt tài sản do chính mình quản lý, được nhà nước giao hoặc do tổ chức ủy thác; trong khi nhận hối lộ là nhận lợi ích từ một chủ thể bên ngoài để thực hiện hoặc không thực hiện một công vụ. Nhận hối lộ khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356) ở chỗ: lợi dụng chức vụ là dùng quyền hạn được giao để trục lợi cho bản thân hoặc cho người khác mà không nhất thiết có sự trao đổi với người đưa; còn nhận hối lộ đòi hỏi phải có sự thỏa thuận ngầm hoặc công khai giữa người đưa và người nhận. Ngoài ra, cần lưu ý phân biệt với hành vi tặng quà, nhận quà trong quan hệ xã giao thông thường: nếu giá trị quà tặng dưới ngưỡng quy định, không gắn với điều kiện thực hiện công vụ và được thực hiện trong dịp lễ, tết, cưới hỏi theo phong tục thì không cấu thành tội phạm, nhưng vẫn có thể vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp và quy định nội bộ của tổ chức tín dụng.

Ví dụ minh họa và ứng dụng trong ngân hàng

Một trưởng phòng tín dụng chi nhánh ngân hàng X nhận 200.000.000 đồng từ chủ doanh nghiệp Y để phê duyệt khoản vay 30 tỷ đồng mà hồ sơ không đủ điều kiện: hành vi này cấu thành tội nhận hối lộ theo Điều 354, mức phạt dự kiến từ 7 năm đến 15 năm tù, kèm phạt tiền bổ sung và cấm đảm nhiệm chức vụ. Một kiểm soát viên tại quầy nhận 5.000.000 đồng tiền mặt từ khách hàng để bỏ qua bước xác minh danh tính khi mở tài khoản: hành vi này cũng cấu thành nhận hối lộ, kèm theo vi phạm quy định về phòng, chống rửa tiền theo Luật Phòng, chống rửa tiền. Một thành viên hội đồng tín dụng được một đối tác cung cấp kỳ nghỉ miễn phí trị giá 80.000.000 đồng để bỏ phiếu thuận cho dự án đầu tư trái quy định: dù lợi ích là phi vật chất (du lịch), giá trị quy đổi vẫn thuộc khung phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

Yêu cầu tuân thủ nội bộ trong tổ chức tín dụng

Các ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện đều xây dựng quy chế quản lý quà tặng, tiếp khách và xung đột lợi ích, trong đó quy định rõ ngưỡng giá trị quà tặng được phép nhận (thông thường không quá 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng mỗi lần), thủ tục khai báo và chuyển giao quà tặng cho bộ phận pháp chế hoặc đơn vị từ thiện. Bên cạnh đó, hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động theo mô hình ba tuyến phòng thủ: tuyến một là đơn vị kinh doanh tự kiểm soát; tuyến hai là bộ phận quản trị rủi ro và tuân thủ giám sát; tuyến ba là kiểm toán nội bộ đánh giá độc lập. Ứng viên tham gia kỳ thi tuyển dụng ngân hàng cần nắm vững các khái niệm này vì đây là nội dung thường xuất hiện trong phần thi tuân thủ (compliance), đạo đức nghề nghiệp và tình huống nghiệp vụ. Nội dung trên mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên nghiệp.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

B
BIDV

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.