Chính sách quản trị tài sản tài chính
Chính sách quản trị tài sản tài chính là tài liệu quản trị nội bộ do ngân hàng ban hành, quy định các nguyên tắc, tiêu chuẩn và thủ tục trong toàn bộ quá trình đầu tư, nắm giữ, định giá, theo dõi và thoại vốn các tài sản tài chính thuộc danh mục quản lý. Mục tiêu của chính sách là đảm bảo hoạt động quản trị tài sản diễn ra trong khuôn khổ quản trị rủi ro, tuân thủ quy định pháp luật hiện hành và phù hợp với chiến lược kinh doanh của tổ chức tín dụng. Đây là công cụ cốt lõi để Ban Tổng Giám đốc, Hội đồng Quản trị và các bộ phận chuyên trách kiểm soát mức độ chấp nhận rủi ro trước khi quyết định phân bổ vốn vào các công cụ tài chính.
Phạm vi và mục tiêu quản trị tài sản tài chính
Phạm vi áp dụng của chính sách thường bao gồm chứng khoán niêm yết (cổ phiếu, trái phiếu do doanh nghiệp và chính quyền phát hành), chứng chỉ tiền gửi, các công cụ nợ, tín phiếu và giấy tờ có giá của cơ sở đầu tư, cùng với các sản phẩm có cấu trúc khi được cơ quan quản lý cho phép đầu tư. Đối với từng danh mục, chính sách xác định giới hạn vốn đầu tư, mức tập trung theo tổ chức phát hành, ngành, lãi suất, thời hạn, cùng hạn xếp hạng tín dục và loại tài sản.
Mục tiêu quản trị tài sản tài chính gồm ba tầng: bảo vệ vốn và dòng tiền của ngân hàng; đảm bảo tính thanh khoản của danh mục; và tạo lợi nhuận ổn định trong giới hạn rủi ro được phê duyệt. Chính sách cũng phân định rõ trách nhiệm giữa các khâu từ nghiên cứu đầu tư, thẩm định tín dụng, quyết định đầu tư, giám sát sau đầu tư đến báo cáo quản trị định kỳ.
Nguyên tắc xây dựng chính sách quản trị tài sản tài chính
Chính sách được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản: phân tách trách nhiệm giữa bộ phận đề xuất, bộ phận thẩm định, bộ phận quyết định và bộ phận thực thi; đảm bảo tính độc lập của khối kiểm soát rủi ro; quản trị theo danh mục thay vì theo từng khoản đầu tư; và tuân thủ chặt chẽ các giới hạn đầu tư do cơ quan quản lý quy định đối với từng loại tổ chức tín dụng.
Điểm khác biệt quan trọng giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp phi tín dụng nằm ở chế độ hạn chế về việc đầu tư vào tài sản tài chính. Doanh nghiệp thường dùng cổ phiếu để đầu tư chiến lược và nắm giữ lâu dài, trong khi tổ chức tín dụng vì mục tiêu an toàn vốn nên bị giới hạn về mức đầu tư, yêu cầu về tính thanh khoản và cơ cấu danh mục phải phù hợp quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Cơ chế quản trị và ra quyết định đầu tư
Quy trình ra quyết định đầu tư thường đi theo các bước: tiếp nhận đề xuất từ bộ phận nghiệp vụ, kiểm tra điều kiện đầu tư theo chính sách, thẩm định rủi ro của tài sản và tổ chức phát hành, trình ủy ban hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt, sau đó thực hiện giao dịch và cập nhật hệ thống. Tùy quy mô ngân hàng, các cấp phê duyệt được phân quyền theo ngưỡng giá trị, ví dụ dưới 5 tỷ đồng do Trưởng phòng quyết định, từ 5 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng do Phó Tổng Giám đốc phê duyệt, các khoản lớn hơn trình Hội đồng Quản trị.
Đối với tài sản tài chính phát sinh từ hoạt động cho vay hoặc bảo lãnh, chính sách cần quy định rõ mối liên hệ giữa hoạt động quản trị tài sản và hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, tránh tình trạng đầu tư vào tài sản của khách hàng vượt mức rủi ro đã được phê duyệt nhằm tối ưu chỉ tiêu lợi nhuận từ chứng khoán.
Định giá và giám sát danh mục tài sản tài chính
Định giá tài sản tài chính được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý và tại các thời điểm có sự kiện quan trọng như thay đổi cơ cấu tài sản, doanh nghiệp phát hành vi phạm nghĩa vụ hoặc thị trường biến động mạnh. Chính sách quy định rõ nguồn giá tham khảo: giá niêm yết trên sàn giao dịch, giá từ các tổ chức môi giới uy tín, hoặc mô hình chiết khấu dòng tiền khi không có giá thị trường đáng tin cậy.
Giá trị tài sản tài chính được phân loại theo trạng thái thanh khoản: tài sản được phân loại theo mức độ chắc chắn thu hồi, còn tài sản chưa được phân loại được giám sát chặt chẽ hơn về tập trung và điều kiện thoát vốn. Đơn vị giám sát danh mục có trách nhiệm đánh giá lại hiệu quả đầu tư theo quý, lập báo cáo tình hình tài sản tài chính trình Ban Tổng Giám đốc và trình bày trước Hội đồng Quản trị định kỳ.
Câu hỏi thường gặp
Hỏi: Chính sách quản trị tài sản tài chính khác với quy trình quản trị tài sản tài chính ở điểm nào?
Chính sách là văn bản mang tính nguyên tắc và thẩm quyền, xác định phạm vi, giới hạn, vai trò và trách nhiệm của các bộ phận. Quy trình quản trị tài sản tài chính là tài liệu hướng dẫn các bước thực hiện cụ thể như thẩm định, phê duyệt, định giá và báo cáo, được xây dựng trên cơ sở chính sách.
Hỏi: Ngân hàng có được tự do lựa chọn tỷ lệ đầu tư vào chứng khoán niêm yết hay không?
Không hoàn toàn. Tỷ lệ đầu tư vào tài sản tài chính của tổ chức tín dụng chịu ràng buộc theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước về các tỷ lệ an toàn vốn và giới hạn đầu tư, đồng thời phải nằm trong hạn mức đã được Hội đồng Quản trị phê duyệt trong chính sách quản trị tài sản tài chính.
Hỏi: Khi tài sản tài chính được mua lại do khách hàng bán ra thì cơ chế giám sát rủi ro có khác gì so với đầu tư mới?
Khác ở chỗ tài sản đã nắm giữ thường có dữ liệu về lịch sử giá, khả năng thanh khoản và mức độ biến động thực tế của nó. Tuy nhiên nguyên tắc kiểm soát vẫn giữ nguyên: cần đánh giá lại tập trung danh mục sau giao dịch, kiểm tra hạn mức theo tổ chức phát hành và bảo đảm thanh khoản toàn danh mục trước khi bán ra.
Thông tin trên mang tính tham khảo. Công tác xây dựng và áp dụng chính sách quản trị tài sản tài chính cần phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành; khi cần, tổ chức tín dụng nên tham vấn ý kiến tư vấn pháp lý và quản trị rủi ro độc lập.