Phí bảo lãnh điện tử
Phí bảo lãnh điện tử là khoản phí dịch vụ mà ngân hàng thu để thực hiện các thao tác liên quan đến bảo lãnh trên hệ thống điện tử, ví dụ như tiếp nhận yêu cầu, cấp bảo lãnh, kiểm tra tính hợp lệ, cập nhật trạng thái, xác nhận thông tin hoặc xử lý các thay đổi liên quan đến bảo lãnh. Tùy theo sản phẩm, giao dịch và quy trình áp dụng, phí có thể được tính theo lần giao dịch, theo hồ sơ bảo lãnh, theo giá trị bảo lãnh hoặc theo các khoản thu khác do ngân hàng công bố trong biểu phí.
Trong môi trường ngân hàng số hóa, phí bảo lãnh điện tử giúp khách hàng tiếp cận dịch vụ nhanh hơn, giảm thời gian làm việc giữa các bộ phận và hạn chế sai sót do nhập liệu thủ công. Mức phí và cách thu phụ thuộc vào chính sách của từng ngân hàng, loại bảo lãnh, kênh thực hiện và thời điểm khách hàng sử dụng dịch vụ.
Các thành phần thường được tính phí
- Phí tiếp nhận và xử lý hồ sơ: áp dụng khi khách hàng gửi yêu cầu cấp bảo lãnh hoặc bổ sung hồ sơ qua kênh điện tử.
- Phí cấp bảo lãnh: thường gắn với việc ngân hàng phát hành bảo lãnh điện tử cho khách hàng hoặc doanh nghiệp.
- Phí cập nhật, xác nhận hoặc hủy bảo lãnh: có thể được thu khi khách hàng thay đổi thông tin trên bảo lãnh, yêu cầu xác nhận hoặc thực hiện các giao dịch liên quan đến việc giải thể bảo lãnh.
- Phí theo dịch vụ kèm theo: bao gồm chữ ký số, xác thực điện tử, lưu trữ tài liệu, gửi thông báo hoặc tích hợp với hệ thống của khách hàng.
Khách hàng nên xác minh biểu phí trước khi sử dụng dịch vụ vì cùng một loại bảo lãnh có thể được tính phí khác nhau khi thực hiện trực tiếp tại quầy hoặc qua kênh trực tuyến.
Ví dụ minh họa
Giả sử doanh nghiệp sử dụng bảo lãnh điện tử để bảo đảm cho một khoản vay theo hạn mức. Ngân hàng có thể thu phí tiếp nhận hồ sơ là 50.000 đồng và phí cấp bảo lãnh là 0,05% giá trị bảo lãnh. Với giá trị bảo lãnh là 2 tỷ đồng, phí cấp bảo lãnh là 1.000.000 đồng. Nếu khách hàng sử dụng thêm chữ ký số và dịch vụ gửi thông báo, các khoản phí này được tính riêng theo biểu phí của ngân hàng.
Minh họa trên chỉ mang tính cách tính. Khách hàng không nên sử dụng các con số này để xác định nghĩa vụ tài chính thực tế nếu chưa có xác nhận từ ngân hàng cung cấp dịch vụ.
Cách kiểm soát và đối soát phí
Khách hàng doanh nghiệp nên yêu cầu ngân hàng cung cấp biểu phí bằng văn bản trước khi ký hợp đồng hoặc kích hoạt dịch vụ. Đối với các giao dịch phát sinh thường xuyên, ngân hàng và khách hàng có thể thống nhật định kỳ đối soát số phí theo hệ thống thống kê giao dịch.
Một quy trình đối soát thường gồm:
- Khách hàng kiểm tra số lượng bảo lãnh, loại bảo lãnh và các lần phát sinh giao dịch trên báo cáo điện tử.
- Đối chiếu từng khoản phí với biểu phí và hợp đồng dịch vụ.
- Kiểm tra thời điểm ghi nhận, cơ sở tính phí và trạng thái thanh toán.
- Ghi nhận các sai khác và gửi yêu cầu điều chỉnh nếu phát sinh chênh lệch.
Việc lưu giữ biểu phí, hợp đồng, báo cáo giao dịch và biên bản đối soát giúp các bên làm rõ căn cứ thanh toán khi có khiếu nại.
Câu hỏi thường gặp
Hỏi: Phí bảo lãnh điện tử có bao gồm phí cấp bảo lãnh lần đầu không?
Không phải trong mọi trường hợp. Tùy ngân hàng và sản phẩm, phí tiếp nhận hồ sơ, phí cấp bảo lãnh, phí bổ sung hồ sơ và phí gia hạn có thể được tách thành các khoản riêng. Khách hàng cần căn cứ vào biểu phí và hợp đồng dịch vụ để xác định tổng chi phí.
Hỏi: Nếu hệ thống điện tử từ chối giao dịch hoặc xử lý không thành công, khách hàng có được hoàn phí không?
Phụ thuộc vào mức độ đã hoàn thành của dịch vụ. Nếu yêu cầu bị từ chối trước khi phát sinh nghĩa vụ cấp bảo lãnh, ngân hàng có thể không thu phí hoặc hoàn lại khoản phí theo chính sách. Nếu đã thực hiện một phần dịch vụ hoặc đã phát hành bảo lãnh, cách xử lý sẽ căn cứ vào biểu phí, hợp đồng và thông báo của ngân hàng.
Hỏi: Doanh nghiệp có thể kiểm tra các khoản phí bảo lãnh điện tử hằng tháng như thế nào?
Doanh nghiệp có thể đối chiếu báo cáo giao dịch điện tử với hợp đồng, biểu phí và báo cáo công nợ của ngân hàng. Đối với giao dịch số lượng lớn, hai bên có thể thống nhật báo cáo định kỳ tự động hoặc thực hiện đối soát định kỳ hằng tháng, quý.
Nội dung mang tính tham khảo về nghiệp vụ ngân hàng, không thay thế biểu phí, hợp đồng hoặc tư vấn chuyên môn của ngân hàng cung cấp dịch vụ.