Tỷ lệ tổng tài sản có sinh lời
Tỷ lệ tổng tài sản có sinh lời là chỉ số đo khả năng tạo ra thu nhập từ toàn bộ tài sản sinh lời của ngân hàng. Chỉ số này thường được tính bằng cách chia tổng thu nhập hoặc lợi nhuận thuần từ hoạt động sinh lời cho tổng tài sản sinh lời trong cùng kỳ. Các tài sản sinh lời có thể bao gồm tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác, chứng khoán đầu tư, cho vay khách hàng, phải thu và các khoản tài sản có khả năng tạo thu nhập.
Các khái niệm tương đương trong báo cáo quản trị của ngân hàng có thể là tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản sinh lời, tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản sinh lời hoặc tỷ lệ hoàn vốn tài sản sinh lời. Tùy thuộc vào mục tiêu phân tích và quy định trình bày báo cáo, mẫu số có thể sử dụng tổng tài sản sinh lời tại thời điểm cuối kỳ, tài sản sinh lời bình quân trong kỳ hoặc cả hai chỉ tiêu. Do đó, khi so sánh số liệu giữa các ngân hàng, cần kiểm tra công thức và phạm vi tính trước.
Công thức tính
Công thức phổ biến nhất là:
Tỷ lệ tổng tài sản có sinh lời = Lợi nhuận thuần từ hoạt động sinh lời ÷ Tổng tài sản sinh lời × 100%
Trong đó:
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động sinh lời là khoản lợi nhuận sau khi trừ chi phí hoạt động, chi phí tín dụng, thuế và các khoản điều chỉnh liên quan.
- Tổng tài sản sinh lời là tổng giá trị tài sản có khả năng tạo ra thu nhập trong kỳ phân tích.
- Tỷ lệ thường được thể hiện bằng phần trăm theo năm hoặc theo kỳ báo cáo.
Ví dụ, một ngân hàng có lợi nhuận thuần từ hoạt động sinh lời 3.600 tỷ đồng và tổng tài sản sinh lời bình quân 300.000 tỷ đồng trong năm thì tỷ lệ tổng tài sản có sinh lời là:
3.600 ÷ 300.000 × 100% = 1,2%
Kết quả này cho thấy, trên mỗi 100 đồng tài sản sinh lời bình quân, ngân hàng tạo ra khoản lợi nhuận thuần 1,2 đồng trong năm.
Ý nghĩa trong đánh giá ngân hàng
Tỷ lệ tổng tài sản có sinh lời phản ánh hiệu quả sử dụng các tài sản có khả năng tạo ra doanh thu và lợi nhuận. Chỉ số cao thường gợi ý rằng ngân hàng đang sử dụng tài sản hiệu quả, kiểm soát chi phí tốt hoặc có chất lượng tài sản sinh lời tốt hơn. Tuy nhiên, chỉ số này không nên được xem xét tách biệt khỏi lợi nhuận, chất lượng tín dụng và mức độ an toàn.
Một ngân hàng có tỷ lệ tổng tài sản sinh lời cao nhưng nợ xấu tăng nhanh có thể chưa thật sự hiệu quả, bởi lợi nhuận trong ngắn hạn có thể chưa phản ánh đầy đủ rủi ro dài hạn. Ngược lại, tỷ lệ thấp không nhất thiết đồng nghĩa với hoạt động yếu nếu ngân hàng đang trong giai đoạn mở rộng tài sản sinh lời, tăng trước doanh thu hoặc đầu tư vào cơ sở vật chất, công nghệ và năng lực mạng lưới.
Chỉ số còn phụ thuộc vào cơ cấu tài sản. Ngân hàng có tỷ trọng lớn tài sản sinh lời trong tổng tài sản thường có cơ hội nâng cao doanh thu từ tài sản, nhưng đồng thời phải đối mặt với yêu cầu quản trị rủi ro, định giá và thanh khoản cao hơn. Vì vậy, cần đánh giá đồng thời tỷ lệ này với tỷ lệ tài sản sinh lời trên tổng tài sản, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn và chất lượng tín dụng.
Ví dụ phân tích
Giả sử ngân hàng A có tổng tài sản sinh lời bình quân 200.000 tỷ đồng và lợi nhuận thuần từ hoạt động sinh lời 2.000 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 1,0%. Ngân hàng B có tổng tài sản sinh lời bình quân 500.000 tỷ đồng và cùng mức lợi nhuận thuần 2.000 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 0,4%.
Về mặt hiệu quả tương đối trên mỗi đồng tài sản sinh lời, ngân hàng A đang sử dụng tài sản tốt hơn. Tuy nhiên, ngân hàng B vẫn tạo ra cùng mức lợi nhuận tuyệt đối nhờ quy mô tài sản lớn hơn. Do đó, các nhà phân tích cần kết hợp tỷ lệ tổng tài sản có sinh lời với quy mô hoạt động, xu hướng tăng trưởng và chất lượng tài sản để đưa ra kết luận đầy đủ.
Câu hỏi thường gặp
Hỏi: Vì sao một ngân hàng có tỷ lệ tổng tài sản có sinh lời cao nhưng vẫn có thể có chất lượng tín dụng thấp?
Tỷ lệ cao có thể đến từ lợi nhuận trước khi trích lập dự phòng hoặc do tài sản sinh lời tăng nhanh trong ngắn hạn. Nếu tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ tổng tài sản có sinh lời tăng lên thì khả năng tài sản sinh lời không tạo ra lợi nhuận bền vững và ngân hàng có thể phải đánh giá lại chất lượng tín dụng.
Hỏi: Khi nào nên dùng tài sản sinh lời tại cuối kỳ và khi nào nên dùng mức bình quân?
Dùng tài sản sinh lời tại cuối kỳ thuận tiện khi cần đối chiếu với báo cáo tài chính tại một thời điểm cụ thể. Mức bình quân trong kỳ phù hợp hơn với phân tích hiệu quả sinh lời vì phản ánh tài sản thực sự được sử dụng trong suốt kỳ, đặc biệt khi quy mô tài sản biến động mạnh.
Hỏi: Tỷ lệ tổng tài sản có sinh lời khác tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản như thế nào?
Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản sử dụng toàn bộ tài sản của ngân hàng làm mẫu số, bao gồm cả tài sản không sinh lời như tiền mặt, tài sản cố định và các khoản phải thu. Tỷ lệ tổng tài sản có sinh lời chỉ sử dụng nhóm tài sản có khả năng tạo thu nhập, nên thường phản ánh hiệu quả của phần tài sản có hoạt động trực tiếp hơn.