Bỏ qua điều hướng

Vốn cổ phần bổ sung là gì?

Additional Paid-In Capital Kế toán

Vốn cổ phần bổ sung (Thặng dư vốn cổ phần)

Vốn cổ phần bổ sung, trong kế toán ngân hàng và doanh nghiệp tại Việt Nam, là khoản chênh lệch giữa số tiền thực tế thu được từ việc phát hành cổ phiếu và mệnh giá ghi trên cổ phiếu đó. Nói cách khác, khi nhà đầu tư mua cổ phiếu với giá cao hơn mệnh giá (ví dụ mệnh giá 10.000 đồng nhưng phát hành 25.000 đồng), phần chênh lệch 15.000 đồng được hạch toán riêng vào tài khoản thuộc vốn chủ sở hữu, không gộp vào mệnh giá. Khoản này còn được gọi là "thặng dư vốn cổ phần", là một trong những bộ phận cấu thành vốn chủ sở hữu của tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và doanh nghiệp nói chung. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành, thặng dư vốn cổ phần được phản ánh trên Báo cáo tình hình tài chính/Bảng cân đối kế toán tại mục "Vốn chủ sở hữu", tách bạch với vốn điều lệ (vốn cổ phần phổ thông).

Bản chất kế toán của vốn cổ phần bổ sung

Về bản chất, vốn cổ phần bổ sung không phải là vốn thực góp của cổ đông theo đúng nghĩa "góp vốn vào vốn điều lệ", mà là phần thặng dư phát sinh từ hoạt động phát hành. Khi ghi nhận ban đầu, kế toán sử dụng tài khoản 4112 - "Thặng dư vốn cổ phần" để hạch toán phần chênh lệch tăng; nếu phát hành dưới mệnh giá (thường không xảy ra vì vi phạm quy định), phần chênh lệch giảm được ghi vào bên Nợ tài khoản này. Sau khi trừ chi phí phát hành hợp lý (chi phí tư vấn, phát hành, kiểm toán liên quan), số thặng dư còn lại mới được chuyển bổ sung vào vốn điều lệ theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nhưng tại thời điểm phát sinh thì vẫn đứng riêng tại khoản mục thặng dư.

Vai trò đối với tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại

Đối với ngân hàng thương mại, thặng dư vốn cổ phần đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc vốn tự có (vốn cấp 1). Theo quy định về an toàn vốn của Ngân hàng Nhà nước, vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, lợi nhuận không phân phối, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và thặng dư vốn cổ phần. Khoản thặng dư này giúp ngân hàng tăng năng lực tài chính, nâng cao tỷ lệ an toàn vốn (CAR), đáp ứng yêu cầu Basel II/III mà NHNN đang triển khai, đồng thời mở rộng tỷ lệ cho vay trên vốn tự có.

Trong thực tiễn, khi ngân hàng cổ phần NHTM CP hoặc công ty tài chính thực hiện tăng vốn điều lệ thông qua phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng hoặc riêng lẻ, phần thặng dư thường rất lớn vì giá phát hành được định dựa trên giá thị trường hoặc giá thỏa thuận, thường cao hơn nhiều lần mệnh giá 10.000 đồng. Ví dụ: ngân hàng phát hành 100 triệu cổ phiếu với giá 25.000 đồng/cổ phiếu, thu về 2.500 tỷ đồng; trong đó 1.000 tỷ đồng tăng vốn điều lệ, 1.500 tỷ đồng ghi vào thặng dư vốn cổ phần (sau khi trừ chi phí phát hành).

Phân biệt với các khoản mục vốn khác

Cần phân biệt thặng dư vốn cổ phần với một số khoản mục dễ nhầm lẫn trên Bảng cân đối kế toán ngân hàng:

  • Vốn điều lệ (vốn cổ phần phổ thông): phản ánh giá trị cổ phiếu theo mệnh giá đã được cấp phép và góp đủ; là vốn pháp định.
  • Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: trích từ lợi nhuận sau thuế, mục đích bổ sung vốn điều lệ khi cần.
  • Lợi nhuận chưa phân phối: kết quả kinh doanh cộng dồn, không phải khoản thu từ phát hành cổ phiếu.
  • Vốn khác của chủ sở hữu: thường là vốn được tặng, biếu, đánh giá lại tài sản...

Thặng dư vốn cổ phần chỉ phát sinh từ duy nhất hoạt động phát hành cổ phiếu (phát hành lần đầu, phát hành tăng vốn, chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu). Đặc biệt, khi cổ phiếu quỹ được bán ra với giá khác giá mua lại, phần chênh lệch cũng được ghi tăng/giảm vào tài khoản thặng dư vốn cổ phần.

Câu hỏi thường gặp

Hỏi: Thặng dư vốn cổ phần có được dùng để chia cổ tức bằng tiền cho cổ đông không? Không. Theo quy định kế toán và pháp luật doanh nghiệp hiện hành, thặng dư vốn cổ phần không phải lợi nhuận, không dùng để chia cổ tức bằng tiền. Khoản này chỉ được dùng để bù đắp lỗ chưa phân phối (nếu có), bổ sung vốn điều lệ theo Nghị quyết ĐHĐCĐ hoặc chuyển nhượng theo quy định.

Hỏi: Khi ngân hàng phát hành cổ phiếu thưởng (tỷ lệ 100:15), có phát sinh thặng dư vốn cổ phần không? Không phát sinh. Phát hành cổ phiếu thưởng là phát hành theo mệnh giá, lấy nguồn từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ hoặc thặng dư vốn cổ phần (nếu ĐHĐCĐ thông qua). Vì giá phát hành bằng mệnh giá nên không có chênh lệch, do đó không ghi nhận vào tài khoản thặng dư vốn cổ phần.

Hỏi: Chi phí phát hành cổ phiếu (phí tư vấn, phí kiểm toán, phí niêm yết bổ sung) có được cộng vào thặng dư vốn cổ phần không? Không. Chi phí phát hành được ghi giảm trực tiếp vào thặng dư vốn cổ phần phát sinh trong đợt (ghi Nợ tài khoản 4112), tức là khoản thặng dư ròng cuối cùng = tổng số tiền thu được - mệnh giá cổ phiếu phát hành - chi phí phát hành hợp lý có chứng từ hợp lệ. Nếu chi phí phát hành vượt quá thặng dư, phần vượt được hạch toán vào chi phí tài chính hoặc chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ.


Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn chuyên môn kế toán, tài chính ngân hàng và không phải căn cứ pháp lý chính thức cho bất kỳ giao dịch hoặc quyết định đầu tư nào.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

VDB
Ngân Hàng Phát Triển Việt Nam

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.