Bỏ qua điều hướng

Ý kiến chấp nhận có ngoại trừ là gì?

Qualified Opinion Kiểm toán & Tuân thủ

Ý kiến chấp nhận có ngoại trừ

Ý kiến chấp nhận có ngoại trừ (tiếng Anh: Qualified Opinion) là một trong bốn loại ý kiến kiểm toán chuẩn được quy định trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (cụ thể là Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 – Hình thức ý kiến kiểm toán và Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705 – Sửa đổi ý kiến kiểm toán trong báo cáo của kiểm toán viên độc lập). Khi phát hành loại ý kiến này, kiểm toán viên khẳng định rằng báo cáo tài chính (BCTC) đã phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ của đơn vị được kiểm toán, ngoại trừ ảnh hưởng của (các) vấn đề cụ thể được nêu trong đoạn "Cơ sở cho ý kiến kiểm toán có ngoại trừ". Nói cách khác, toàn bộ BCTC là đáng tin cậy, chỉ có một hoặc vài khoản mục/nhóm giao dịch nhất định bị sai lệch, chưa đủ phạm vi hoặc chưa đủ mức trọng yếu để buộc kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến từ chối (adverse opinion) hay ý kiến không thể đưa ra (disclaimer opinion).

Khi nào kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận có ngoại trừ

Việc đưa ra ý kiến chấp nhận có ngoại trừ phải dựa trên đánh giá nghề nghiệp của kiểm toán viên về tính trọng yếu và tính phổ biến của vấn đề phát hiện được. Cụ thể:

  • Có sai sót hoặc ngoại lệ trọng yếu nhưng không phổ biến: Sai sót ảnh hưởng đến một hoặc một vài khoản mục, một số giao dịch hoặc một sự kiện cụ thể trong BCTC, nhưng không ảnh hưởng lan tỏa đến nhiều yếu tố, nhiều khoản mục hay toàn bộ BCTC. Ví dụ: chỉ một khoản dự phòng phải trả tại một công ty con không được trích đủ theo quy định; hoặc chỉ phần thuyết minh về tài sản thế chấp bị thiếu.
  • Không thể thu thập đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhưng không phổ biến: Kiểm toán viên không có khả năng thực hiện một hoặc nhiều thủ tục kiểm toán cần thiết, nhưng hạn chế đó chỉ liên quan đến một khoản mục hoặc vài khoản mục. Ví dụ: không thể chứng kiến kiểm kê tiền tại một quỹ phụ, không thu được thư xác nhận công nợ của một nhóm khách hàng nhỏ, không xem được hợp đồng gốc tại một chi nhánh.
  • Có sự sai lệch do không tuân thủ chuẩn mực kế toán nhưng ảnh hưởng cục bộ: Ví dụ đơn vị áp dụng sai cách phân bổ chi phí khấu hao cho một nhóm tài sản cố định, hoặc trình bày sai thuyết minh một khoản công cụ phái sinh.

Ví dụ minh họa trong lĩnh vực ngân hàng

Một ngân hàng thương mại niêm yết được kiểm toán BCTC năm N. Kiểm toán viên phát hiện:

  • Khoản dự phòng rủi ro cho một khoản nợ xấu cụ thể của một khách hàng doanh nghiệp lớn bị trích thiếu khoảng 120 tỷ đồng so với mức theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ và trích lập dự phòng. Sai sót này trọng yếu nhưng chỉ ảnh hưởng riêng đến số dự phòng và chi phí dự phòng trên báo cáo kết quả kinh doanh, không ảnh hưởng đến các khoản mục khác (vốn, thu nhập lãi, tỷ lệ an toàn vốn đã được thuyết minh theo số liệu khác).
  • Hoặc kiểm toán viên không thể tham gia kiểm kê tiền mặt, vàng tại một chi nhánh phía Bắc vào ngày khóa sổ cuối năm vì lý do bất khả kháng. Tổng giá trị tiền mặt, vàng tại chi nhánh đó chiếm dưới 2% tổng tài sản có của toàn hệ thống.

Cả hai tình huống này đều dẫn đến ý kiến chấp nhận có ngoại trừ thay vì ý kiến từ chối.

Cách trình bày trong báo cáo kiểm toán

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705, báo cáo kiểm toán có ý kiến chấp nhận có ngoại trừ phải gồm các thành phần:

  1. Tiêu đề "Báo cáo kiểm toán độc lập".
  2. Người nhận (Đơn vị được kiểm toán, có thể là Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông).
  3. Phạm vi (đối với ngân hàng thường là BCTC hợp nhất và BCTC riêng của công ty mẹ, ngân hàng mẹ).
  4. Đoạn "Cơ sở cho ý kiến kiểm toán có ngoại trừ": mô tả cụ thể vấn đề, số liệu bị ảnh hưởng (nếu có thể ước tính), lý do không thể thu thập bằng chứng (nếu là giới hạn phạm vi).
  5. Đoạn ý kiến kiểm toán bắt đầu bằng cụm từ: "Theo ý kiến chúng tôi, ngoại trừ ảnh hưởng của vấn đề nêu tại đoạn Cơ sở cho ý kiến kiểm toán có ngoại trừ, báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý..." — đây chính là dấu hiệu nhận biết bằng văn bản của loại ý kiến này.
  6. Phần trách nhiệm của kiểm toán viên và của Ban Giám đốc/Đơn vị, ngày, chữ ký, tên công ty kiểm toán.

Phân biệt với các loại ý kiến khác

Loại ý kiếnBản chất đánh giáMức ảnh hưởng
Chấp nhận toàn phần (Unqualified)BCTC trung thực, hợp lý trên mọi khía cạnh trọng yếuKhông có ngoại lệ
Chấp nhận có ngoại trừ (Qualified)BCTC trung thực, hợp lý ngoại trừ vấn đề cụ thểTrọng yếu nhưng không phổ biến
Từ chối (Adverse)BCTC không trung thực, hợp l trên mọi khía cạnh trọng yếuTrọng yếu và phổ biến
Không đưa ra ý kiến (Disclaimer)Không đủ bằng chứng để đưa ra ý kiếnGiới hạn phạm vi nghiêm trọng, phổ biến

Việc phân biệt giữa "trọng yếu nhưng không phổ biến" và "trọng yếu và phổ biến" chính là ranh giới quyết định giữa ý kiến chấp nhận có ngoại trừ và ý kiến từ chối — đây cũng là điểm các câu hỏi trong đề thi tuyển dụng ngân hàng vào vị trí kiểm toán nội bộ, kiểm soát tuân thủ (compliance) hoặc kiểm toán viên thường tập trung khai thác.

Câu hỏi thường gặp

Hỏi: Nếu ngân hàng không trích đủ dự phòng cho toàn bộ danh mục nợ xấu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (không phải chỉ một khoản mục) thì ý kiến kiểm toán sẽ là gì? Trả lời: Sai sót lúc này ảnh hưởng phổ biến đến nhiều khoản mục trong BCTC: chi phí dự phòng, thu nhập lãi thuần, thuế thu nhập doanh nghiệp hoại, lợi nhuận sau thuế, dự phòng rủi ro tín dụng và có thể cả tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu trên báo cáo quản trị. Do đó, mặc dù vẫn là sai sót trọng yếu, kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến từ chối thay vì ý kiến chấp nhận có ngoại trừ.

Hỏi: Ý kiến chấp nhận có ngoại trừ có khiến ngân hàng bị UBCKNN hoặc Ngân hàng Nhà nước đưa vào diện cảnh báo không? Trả lời: Bản thân việc nhận ý kiến kiểm toán có ngoại trừ không tự động đồng nghĩa với việc bị cảnh báo, nhưng là yếu tố rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng BCTC và hệ thống kiểm soát nội bộ. Đối với ngân hàng niêm yết, ý kiến có ngoại trừ hai năm liên tiếp trở lên thường thuộc tiêu chí giám sát đặc biệt; với tổ chức tín dụng chưa niêm yết, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giải trình trong Báo cáo thường niên về các ngoại lệ và kế hoạch khắc phục.

Hỏi: Trong giao dịch M&A mua lại ngân hàng, nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý gì về ý kiến chấp nhận có ngoại trừ trong BCTC của ngân hàng mục tiêu? Trả lời: Cần đọc kỹ đoạn "Cơ sở cho ý kiến kiểm toán có ngoại trừ" để biết ngoại lệ nằm ở khoản mục nào, có thể ước tính được số liệu hay không, và việc khắc phục đòi hỏi chi phí/điều kiện gì. Một ngoại lệ về dự phòng hoặc tranh chấp pháp lý chưa được trích đủ sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp mục tiêu; trong khi một ngoại lệ về thuyết minh hoặc phân loại lại ít ảnh hưởng về số. Do đó, ý kiến chấp nhận có ngoại trừ thường là điểm mặc cả giá hoặc điều kiện chuyển tiền (escrow) trong hợp đồng mua bán.


Nội dung mang tính tham khảo về mặt nghiệp vụ và đào tạo, không thay thế tư vấn pháp lý, kiểm toán hoặc tài chính chuyên nghiệp cho từng trường hợp cụ thể.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

VDB
Ngân Hàng Phát Triển Việt Nam

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.