Bỏ qua điều hướng

Thanh toán song phương là gì?

Bilateral Payment Agreement Ngoại hối

Thanh toán song phương

Thanh toán song phương (tiếng Anh: Bilateral Payment) là phương thức thanh toán quốc tế được thỏa thuận trực tiếp giữa hai quốc gia (hoặc giữa ngân hàng trung ương của hai quốc gia), trong đó các khoản phải thu và phải trả phát sinh từ hoạt động thương mại, dịch vụ, đầu tư giữa hai bên được quyết toán trực tiếp với nhau theo một cơ chế đã thống nhất trước. Cơ chế này thường đi kèm một đồng tiền thanh toán chung hoặc hai đồng tiền đã thỏa thuận, giúp hai bên giảm thiểu việc phải chuyển đổi qua bên thứ ba hay sử dụng các đồng tiền dự trữ quốc tế.

Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, thuật ngữ này thường xuất hiện khi nói đến các hiệp định thanh toán ký giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với ngân hàng trung ương các nước có quan hệ thương mại lớn như Trung Quốc, Lào, Campuchia, Belarus, Cuba... Tại đó, VND và đồng tiền của nước đối tác được dùng làm phương tiện quyết toán, các khoản nợ qua lại được bù trừ định kỳ thông qua tài khoản đặc biệt mở tại ngân hàng trung ương mỗi nước.

Cơ chế hoạt động

Về bản chất, thanh toán song phương vận hành theo trục đối xứng giữa hai ngân hàng trung ương:

  • Ngân hàng trung ương hai nước ký hiệp định khung, mở cho nhau một tài khoản đặc biệt (gọi là tài khoản clearing hoặc tài khoản thanh toán song phương) bằng đồng tiền đã thỏa thuận.
  • Khi doanh nghiệp nước A xuất khẩu sang nước B: ngân hàng thương mại nước A ghi có vào tài khoản của ngân hàng trung ương nước B mở tại ngân hàng trung ương nước A; đồng thời ngân hàng trung ương nước B ghi nợ tương ứng cho ngân hàng trung ương nước A mở tại nước B.
  • Định kỳ (thường là cuối quý hoặc cuối năm), hai ngân hàng trung ương đối chiếu số dư và bù trừ: bên nào có dư nợ ròng lớn hơn sẽ phải chuyển phần chênh lệch bằng ngoại tệ mạnh (thường là USD) cho bên còn lại, hoặc đảo sang kỳ tiếp theo tùy thỏa thuận.
  • Tỷ giá áp dụng trong các giao dịch này là tỷ giá do ngân hàng trung ương hai nước thống nhất công bố, không phụ thuộc vào biến động tỷ giá thị trường tự do.

Phân biệt với các hình thức thanh toán quốc tế khác

Để tránh nhầm lẫn trong đề thi và trong thực hành nghiệp vụ:

  • Thanh toán đa phương (Multilateral Payment): dùng một đồng tiền quốc tế chung (thường là USD, EUR), quyết toán qua hệ thống ngân hàng toàn cầu (tương ứng SWIFT), không giới hạn giữa hai nước. Đây là phương thức phổ biến nhất hiện nay.
  • Thanh toán song phương: chỉ giới hạn giữa hai nước, có thể dùng đồng tiền của một trong hai bên hoặc cả hai, không nhất thiết phải qua USD.
  • Bù trừ đa biên (Multilateral Clearing): nhiều nước cùng tham gia, các khoản thanh toán được bù trừ qua một cơ quan trung gian duy nhất (ví dụ: Cơ quan Bù trừ châu Âu).

Ưu điểm và hạn chế

Ưu điểm:

  • Tiết kiệm ngoại tệ mạnh (USD, EUR) vì không bắt buộc quy đổi qua các đồng tiền dự trữ quốc tế.
  • Giảm phụ thuộc vào hệ thống tài chính Mỹ/Anh, hạn chế rủi ro bị áp lệnh trừng phạt hoặc cắt đứt quan hệ qua SWIFT.
  • Chủ động tỷ giá, ít chịu áp lực tỷ giá thị trường tự do.
  • Phù hợp với các nước có quan hệ chính trị - thương mại chặt chẽ.

Hạn chế:

  • Phạm vi áp dụng hẹp, chỉ giao dịch với đối tác trong hiệp định.
  • Bù trừ định kỳ có thể tạo áp lực thanh khoản cuối kỳ nếu một bên nhập siêu lớn.
  • Tỷ giá song phương đôi khi không phản ánh đúng giá trị thị trường.
  • Nếu một bên vi phạm nghĩa vụ, việc xử lý tranh chấp phức tạp hơn so với thanh toán qua ngân hàng thương mại quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Hỏi: Thanh toán song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện dùng đồng tiền nào và quyết toán ra sao?

Hai nước đã ký nhiều hiệp định qua các thời kỳ, trong đó tiền thanh toán là VND và NDT (nhân dân tệ). Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mở tài khoản bằng NDT và People's Bank of China mở tài khoản bằng VND. Khi doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc, tiền HKD/NDT được ghi có vào tài khoản của PBoC tại NHNN; ngược lại nhập khẩu thì ghi nợ. Cuối kỳ hai bên đối chiếu, bên dư nợ ròng lớn hơn chuyển phần chênh lệch bằng USD cho bên còn lại theo tỷ giá thỏa thuận.

Hỏi: Trong đề thi tuyển dụng ngân hàng, khi nào nên chọn "thanh toán song phương" thay vì "thanh toán đa phương"?

Khi đề bài nhấn mạnh yếu tố "giữa hai nước", "theo hiệp định khung", "mở tài khoản tại ngân hàng trung ương" hoặc đề cập đến việc "bù trừ định kỳ", "dùng đồng tiền của một trong hai nước" thì đó là thanh toán song phương. Ngược lại, nếu đề nhắc đến SWIFT, đồng tiền thứ ba (thường là USD), hoặc thanh toán xuyên biên giới tự do thì đó là thanh toán đa phương.

Hỏi: Thanh toán song phương có phải lúc nào cũng quy đổi qua USD vào cuối kỳ không?

Không bắt buộc. Tùy thỏa thuận từng hiệp định mà phần chênh lệch cuối kỳ có thể được (i) thanh toán bằng ngoại tệ mạnh, (ii) đảo nợ sang kỳ tiếp theo, hoặc (iii) bù trừ bằng hàng hóa. Ví dụ điển hình là thỏa thuận Việt - Lào trong một số giai đoạn cho phép quyết toán chênh lệch bằng hàng hóa thay vì tiền.


Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo về cơ chế nghiệp vụ, không thay thế văn bản hiệp định cụ thể giữa các ngân hàng trung ương hay tư vấn pháp lý chuyên ngành.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

T
thithu.com

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.