Bỏ qua điều hướng

NHTM (Ngân hàng thương mại) là gì?

Pháp luật ngân hàng

NHTM (Ngân hàng thương mại)

NHTM (Ngân hàng thương mại) là viết tắt của cụm từ "Ngân hàng Thương mại" (tiếng Anh: Commercial Bank), là một loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động ngân hàng thương mại. NHTM là trung gian tài chính trung tâm của hệ thống ngân hàng, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện huy động vốn từ các nguồn trong nền kinh tế, sau đó sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay, cấp tín dụng, đầu tư và cung ứng các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ cho cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và Chính phủ. NHTM tại Việt Nam hiện được chia thành bốn nhóm chính: NHTM Nhà nước (NHTM CP có vốn Nhà nước chi phối), NHTM cổ phần tư nhân, NHTM liên doanh và NHTM 100% vốn nước ngoài (ngân hàng nước ngoài), cùng với các NHTM hợp tác giữa các NHTM.

Các hoạt động ngân hàng được phép thực hiện

Theo quy định pháp luật hiện hành, NHTM được phép kinh doanh các nghiệp vụ cốt lõi gồm: (i) nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; (ii) cấp tín dụng dưới các hình thức cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, phát hành thẻ tín dụng và bao thanh toán; (iii) mở tài khoản thanh toán cho khách hàng và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản; (iv) thực hiện dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ ủy thác và đại lý liên quan đến ngân hàng; (v) kinh doanh ngoại hối và các công cụ phái sinh lãi suất, ngoại hối trên cơ sở có đủ điều kiện theo quy định. Bên cạnh đó, NHTM còn được phép mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ tiền gửi và thực hiện một số hoạt động đầu tư theo giới hạn an toàn. Những hoạt động này đòi hỏi NHTM phải đáp ứng điều kiện về vốn pháp định, cơ sở vật chất, hệ thống kiểm soát nội bộ và được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp Giấy phép thành lập và hoạt động.

Vai trò của NHTM trong hệ thống tài chính

NHTM giữ vai trò trụ cột trong hệ thống tài chính Việt Nam, là kênh dẫn vốn chủ yếu từ tiết kiệm sang đầu tư trong nền kinh tế. Thông qua tính năng tạo tiền bằng chuyển khoản liên ngân hàng và hệ thống thanh toán điện tử, NHTM tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng tiền tệ của nền kinh tế. Tính đến cuối năm 2024, quy mô tổng tài sản của toàn hệ thống NHTM Việt Nam đạt trên 18 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 90% tổng tài sản của các tổ chức tín dụng, cho thấy vị thế áp đảo của NHTM so với các loại hình tổ chức tín dụng khác như công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân hay ngân hàng chính sách. Trên thị trường thanh toán, NHTM đảm nhận khoảng 95% giá trị giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt, đóng vai trò hạ tầng thanh toán quốc gia.

Phân biệt NHTM với các loại hình tổ chức tín dụng khác

NHTM khác với ngân hàng chính sách (như Ngân hàng Chính sách Xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam) ở mục tiêu hoạt động không vì lợi nhuận mà vì mục tiêu chính sách xã hội; khác với ngân hàng hợp tác xã và quỹ tín dụng nhân dân ở quy mô, đối tượng phục vụ và mức độ giám sát an toàn vốn; khác với công ty tài chính ở việc không được nhận tiền gửi dân cư theo hình thức tiền gửi tiết kiệm và thường bị giới hạn về cấp tín dụng. Điểm phân biệt quan trọng nhất là NHTM có đầy đủ bộ ba chức năng: huy động tiền gửi, cấp tín dụng và trung gian thanh toán, trong khi các tổ chức tín dụng khác thường chỉ đảm nhận một hoặc hai chức năng.

Giám sát hoạt động NHTM

Toàn bộ hoạt động của NHTM chịu sự quản lý, giám sát của NHNN thông qua hệ thống các tỷ lệ an toàn vốn (CAR), tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giới hạn cho vay, hạn mức đầu tư và các quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro. NHTM phải tuân thủ chế độ báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất về tình hình tài chính, chất lượng tín dụng, an toàn hoạt động. Khi NHTM vi phạm nghiêm trọng các quy định an toàn hoặc mất khả năng thanh toán, NHNN có thẩm quyền áp dụng các biện pháp can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt và tái cơ cấu, thậm chí rút Giấy phép hoạt động. Thực tiễn gần đây cho thấy NHNN đã kiểm soát đặc biệt và rút Giấy phép một số NHTM yếu kém (tiêu biểu là Ngân hàng CB, OceanBank, GPBank, DongABank), minh chứng cho cơ chế đảm bảo kỷ luật thị trường và an toàn hệ thống.

Lưu ý: Nội dung trên mang tính tham khảo, tổng hợp kiến thức nghiệp vụ và không thay thế tư vấn pháp lý chuyên môn. Số liệu và quy định có thể đã thay đổi; người đọc nên đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành và nguồn chính thống từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

Thuật ngữ liên quan

B

Bank run

Pháp luật ngân hàng

Bank run (Bank run) — Nhiều người gửi tiền cùng rút tiền vì mất niềm tin.

B

Bảo hiểm tiền gửi (Deposit Insurance)

Pháp luật ngân hàng

Bảo hiểm tiền gửi (Deposit Insurance) là cơ chế bảo vệ người gửi tiền, đảm bảo hoàn trả một phần hoặ

C

CDD — Customer Due Diligence (Thẩm tra khách hàng)

Pháp luật ngân hàng

CDD (Customer Due Diligence — Thẩm tra khách hàng) là quy trình ngân hàng xác minh danh tính và đánh

G

Giấy tờ có giá (Valuable Papers / Negotiable Instruments)

Pháp luật ngân hàng

Giấy tờ có giá (Valuable Papers) là chứng từ/chứng chỉ xác nhận quyền tài sản, có thể được giao dịch

G

Giới hạn cho vay — Single Borrower Limit (SBL)

Pháp luật ngân hàng

Giới hạn cho vay (Single Borrower Limit — SBL) là mức tín dụng tối đa mà một TCTD được phép cấp cho

H

Hợp đồng tín dụng (Credit Agreement / Loan Contract)

Pháp luật ngân hàng

Hợp đồng tín dụng là thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) và khách hàng (bên

K

Kho bạc Nhà nước tiếng Anh là gì?

Pháp luật ngân hàng

Kho bạc Nhà nước tiếng Anh là State Treasury, cơ quan quản lý quỹ ngân sách nhà nước, thu chi ngân s

K

Kiểm soát đặc biệt TCTD (Special Control of Credit Institution)

Pháp luật ngân hàng

Kiểm soát đặc biệt là biện pháp NHNN áp dụng đối với tổ chức tín dụng khi có nguy cơ mất khả năng ch

V
Vietcombank

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.