Bỏ qua điều hướng

Biểu thuế luỹ tiến từng phần TNCN là gì?

Progressive Tax Schedule (PIT) Pháp lý

Biểu thuế luỹ tiến từng phần thuế thu nhập cá nhân

Biểu thuế luỹ tiến từng phần thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là cách tính thuế theo bậc thang, trong đó thu nhập tính thuế của người nộp thuế được chia thành nhiều bậc, mỗi bậc áp một mức thuế suất tương ứng. Đặc điểm cốt lõi của phương pháp này là chỉ phần thu nhập vượt qua ngưỡng của bậc nào thì phần đó chịu thuế suất của bậc đó, chứ không phải toàn bộ thu nhập chịu một mức thuế suất duy nhất. Cơ chế này phản ánh nguyên tắc công bằng theo năng lực đóng góp: người có thu nhập càng cao thì phần thu nhập tăng thêm càng chịu thuế suất cao hơn, góp phần điều tiết thu nhập và bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước ổn định. Tại Việt Nam, biểu thuế luỹ tiến từng phần được áp dụng phổ biến đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và một số nguồn thu nhập khác theo quy định của pháp luật về thuế TNCN.

Các bậc thuế suất hiện hành đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công

Theo quy định hiện hành về thuế thu nhập cá nhân, biểu thuế luỹ tiến từng phần đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công gồm 7 bậc với các mức thuế suất lần lượt là 5%, 10%, 15%, 20%, 25%, 30% và 35%. Bậc 1 áp dụng cho phần thu nhập tính thuế đến 5 triệu đồng/tháng; bậc 2 cho phần từ trên 5 đến 10 triệu đồng; bậc 3 cho phần từ trên 10 đến 18 triệu đồng; bậc 4 cho phần từ trên 18 đến 32 triệu đồng; bậc 5 cho phần từ trên 32 đến 52 triệu đồng; bậc 6 cho phần từ trên 52 đến 80 triệu đồng; bậc 7 cho phần thu nhập trên 80 triệu đồng/tháng. Mức giảm trừ gia cảnh bản thân người nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng và mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng; phần thu nhập còn lại sau khi giảm trừ mới đưa vào tính thuế theo biểu luỹ tiến.

Công thức tính thuế theo biểu luỹ tiến từng phần

Thuế TNCN phải nộp được xác định bằng tổng số thuế tính theo từng bậc thu nhập tính thuế, tức là lấy thu nhập tính thuế của từng bậc nhân với thuế suất tương ứng của bậc đó rồi cộng lại. Ngoài cách tính trực tiếp theo từng bậc, pháp luật còn cho phép áp dụng phương pháp rút gọn theo công thức: thuế TNCN phải nộp bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất rút gọn, trong đó thuế suất rút gọn tương ứng với từng khoảng thu nhập tính thuế (ví dụ 5%, 10%, 15%, 20%, 25%, 30%, 35%). Hai phương pháp này cho ra kết quả tương đương nhau và giúp doanh nghiệp, tổ chức trả thu nhập dễ dàng tính toán khi khấu trừ thuế tại nguồn.

Ví dụ minh hoạ cách tính thuế theo biểu luỹ tiến

Giả sử một cá nhân có tổng thu nhập từ tiền lương là 30 triệu đồng/tháng, không có người phụ thuộc. Sau khi giảm trừ gia cảnh bản thân 11 triệu đồng, thu nhập tính thuế là 19 triệu đồng. Áp dụng biểu luỹ tiến từng phần: bậc 1 (đến 5 triệu) × 5% = 250.000 đồng; bậc 2 (trên 5 đến 10 triệu) × 10% = 500.000 đồng; bậc 3 (trên 10 đến 18 triệu) × 15% = 1.200.000 đồng; bậc 4 (phần 19 triệu trừ 18 triệu = 1 triệu còn lại) × 20% = 200.000 đồng. Tổng thuế phải nộp là 2.150.000 đồng. Nếu áp dụng công thức rút gọn với thu nhập tính thuế 19 triệu đồng thuộc khoảng trên 18 đến 32 triệu, thuế suất rút gọn 20%: 19 triệu × 20% = 3.800.000 đồng, trừ đi khoản giảm trừ theo quy định của phương pháp rút gọn là 1.650.000 đồng, kết quả vẫn là 2.150.000 đồng. Như vậy, hai cách tính cho ra cùng kết quả, giúp người nộp thuế dễ kiểm tra chéo.

Phân biệt với biểu thuế toàn phần và ý nghĩa trong ngân hàng

Biểu thuế luỹ tiến từng phần khác với biểu thuế toàn phần (thuế suất đồng biên): ở biểu toàn phần, toàn bộ thu nhập chịu một mức thuế suất duy nhất, trong khi biểu luỹ tiến phân chia thu nhập theo từng đoạn và mỗi đoạn chịu một mức thuế suất khác nhau. Đối với nhân viên ngân hàng, đặc biệt ở các vị trí quan hệ khách hàng, giao dịch viên, kế toán và tư vấn tài chính, việc nắm vững cách tính thuế TNCN theo biểu luỹ tiến từng phần là yêu cầu nghiệp vụ thường xuyên, bởi khách hàng cá nhân có thu nhập cao (chuyên gia, quản lý doanh nghiệp, người kinh doanh) rất cần được tư vấn về tác động của thuế đến dòng tiền, kế hoạch tiết kiệm, đầu tư. Ngoài ra, khi xử lý các giao dịch liên quan đến chứng khoán, bất động sản hoặc chuyển nhượng vốn, nhân viên tín dụng cần phân biệt rõ nguồn thu nhập nào áp dụng biểu luỹ tiến (như thu nhập từ tiền lương) và nguồn nào áp dụng thuế suất phần trăm cố định (như thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, chuyển nhượng bất động sản) để tư vấn chính xác và tránh rủi ro pháp lý cho khách hàng.

Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn chuyên môn về thuế và pháp luật.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

VDB
Ngân Hàng Phát Triển Việt Nam

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.